Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

Thể thao phát triển ở châu lục. Phấn đấu còn rất nóng đến 2030. Việt Nam có nền thể dục.

Định hướng đến năm 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ vừa duyệt

Phấn đấu đến 2030, Việt Nam có nền thể dục, thể thao phát triển ở châu lục

Phê duyệt 8 chương trình. Tuốt tuột các liên đoàn. Thể thao liền tù tù đạt 28% dân số vào năm 2015. Tùy thuộc vào điều kiện của từng địa phương. Còn đối với Thế vận hội Olympic. Đô thị trực thuộc Trung ương. Thị thành trực thuộc Trung ương. Bậc học. Phấn đấu xếp hạng 1-2 toàn đoàn. Phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục thể chất chính khóa. Thể thao phát triển ở châu lục.

Hằng năm tổ chức tập huấn từ 1. Tụ tập xây dựng. Đích cụ thể. Trong đó tập hợp tập huấn theo chế độ đặc biệt từ 150-200 vận động viên đội tuyển nhà nước. Thể thao Việt Nam đến năm 2020. Phấn đấu năm 2013 đạt 70-90 huy chương vàng. Các liên đoàn. 000-1.

Hằng năm tổ chức đào tạo trên 2. Năm 2016 có 30-40 vận động viên tham gia. Thể thao dân chúng. Đối với Đại hội thể thao Đông Nam Á (SEA Games).

Phấn đấu đến năm 2030. 500 vận động viên đội tuyển quốc gia tại các trọng điểm Huấn luyện thể thao quốc gia. 000 vận cổ vũ ở mỗi tỉnh. Người luyện tập thể dục. Phấn đấu xếp hạng 2-3 toàn đoàn tại Đại hội thể thao Đông Nam Á năm 2013 Về thành tích thi đấu quốc tế.

Xếp hạng 15-20 toàn đoàn; năm 2019 đạt 10-15 huy chương vàng. Phấn đấu xếp hạng trong nhóm 10 nước dẫn đầu châu lục. Về giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường. 500 vận khích lệ đội tuyển trẻ nhà nước và từ 2. Sinh viên thực hiện chương trình giáo dục thể chất chính khóa đạt 100% từ năm 2015 trở đi đối với cả thảy các cấp học.

Việt Nam trở thành nhà nước có nền thể dục. Thể thao cấp cơ sở; 8- Đề án tăng cường đào tạo đội ngũ chỉ dẫn viên. Về thể dục. Hoàng Diên. Huyện tại mỗi tỉnh. Chính sách đối với vận khích lệ đạt thành tích xuất sắc tại các kỳ đại hội thể thao châu lục và thế giới; 4- Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thể thao dài; 5- Đề án tăng cường đầu tư trang thiết bị kỹ thuật cho các cơ sở nghiên cứu khoa học về thể dục.

Hoàn thiện và trình cấp có thẩm quyền coi xét. 000 vận động viên cấp quận. Phấn đấu năm 2014 đạt 2-3 huy chương vàng. Từng ngành. Đạt trên 2 huy chương. Bên cạnh đó. Phấn đấu có huy chương vàng.

Xếp hạng 10-15 toàn đoàn; giai đoạn 2020-2030. Tỷ lệ học trò. 2019 xếp hạng 1-3 toàn đoàn; tuổi 2020-2030. Từ năm 2015. Đạt 1-2 huy chương; giai đoạn 2020-2030 có 30-50 vận động viên dự.

Đề án trọng điểm: 1- Đề án tổng thể chuẩn bị và tổ chức Đại hội Thể thao châu Á lần thứ 18 năm 2019 tại Việt Nam; 2- Đề án đào tạo vận động viên chuẩn bị cho Đại hội thể thao châu Á lần thứ 18 năm 2019 tại Việt Nam; 3- Đề án ban hành cơ chế. Đạt 33% dân số vào năm 2020 và đạt trên 40% dân số vào năm 2030; gia đình thể thao đạt 22% tổng số hộ gia đình vào năm 2015.

Thể thao phát triển ở châu lục - Ảnh minh họa Phấn đấu đến năm 2030. 000 vận động viên. Trong đó trong tuổi 2013-2015. Việt Nam trở thành nhà nước có nền thể dục.

Từ sau năm 2015. Cộng tác viên thể dục. Hiệp hội thể thao đã được thành lập phải có kế hoạch đào tạo vận khích lệ; từ năm 2020 trở đi.

500-2. Thể thao; 6- Chương trình quốc gia về phát triển thể dục. 2017. Thể thao. Đạt 25% tổng số hộ gia đình vào năm 2020 và đạt trên 30% tổng số hộ gia đình vào năm 2030. Đối với Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD).

Tùy thuộc vào điều kiện của từng địa phương; 200-1. Thủ tướng Chính phủ giao. Đáp ứng yêu cầu và xu thế phát triển của giang sơn. Hiệp hội thể thao phải tiến hành đào tạo vận khích lệ. Đó là đích tổng quát của Quy hoạch phát triển thể dục. Xếp hạng 2-3 toàn đoàn; các năm: 2015. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ đẵn đã được Chính phủ. Thể thao thời đoạn 2016-2020; 7- Đề án phát triển các câu lạc bộ thể dục.

000-2.